Đọc “Chỉ còn 4 ngày là hết tháng tư”

Một cuộc dạo chơi cùng tiếng Việt.

Đọc văn của tác giả Thuận như giải bài toán khó, thường phải chuẩn bị trước tinh thần minh mẫn, tỉnh táo để nhào vào một cuộc chơi chữ nghĩa đầy rối rắm. Sẽ chẳng có một mũi tên nào đâm thẳng vào trái tim bạn để bạn nức nở lên từng cơn. Lúc nào cũng là giọng văn lạnh lùng, giễu nhại, làm khó người đọc, nhất là trong “Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư” lần này, bạn đọc phải nhảy xuống một cái hố toàn hình chông số bốn.

Thế nhưng, thích được khám phá ấn sổ mới, tôi vẫn cố gắng đọc kỹ và viết cảm nhận, cho dù cách viết của Thuận có thể coi là “làm khó” độc giả.

Ở cuốn mới này, ban đầu khi nhận ra một số yếu tố quen thuộc còn vương vấn lại từ những cuốn trước, kèm theo sự “giăng bẫy” về thời gian, không gian tinh vi hơn trước, tôi phải cầm sách lên, đặt sách xuống đến mấy lần. Tuy nhiên sau càng đọc về cuối càng hay, nhất là hai phần cuối của chương cuối, mọi sự mờ mịt về thân phận của nhân vật như được gỡ ra, các nhân vật luôn có vẻ bề ngoài vô cảm đến tưng tửng của Thuận cũng nội tâm triết lý hơn.

Tôi cảm thấy hồi hộp như đang tham dự vào một cuộc chơi ngôn từ cùng tác giả.

1. Những yếu tố đặc trưng làm nên tác giả Thuận:

Có dịp đọc khá kỹ các tác phẩm của nhà văn, qua bài viết “Đi vào cuộc chơi của Thuận”, tôi có bày tỏ thông điệp muốn tìm kiếm những ẩn số mới hơn. Nhưng các nhân vật của Thuận vẫn thế, luôn có những uẩn ức, khao khát thầm kín, và hầu như không đối thoại. Nhân vật hắn luôn im lặng. Nhân vật cô luôn thì thào. Nhân vật nói gián tiếp thì nhiều nhưng nói trực tiếp chỉ phát âm 4 từ. “Họ chẳng nói với nhau câu nào. Cả một đoạn đường họ chẳng nói với nhau câu nào. Cả một đoạn đường 44 phút chẳng ai nói với ai câu nào.”

Nhân vật của Thuận dù sống ở Pháp mấy chục năm vẫn không hề thay đổi “phong cách Việt Nam”, luôn “nặng mùi” bao cấp, chiến tranh, bị kìm hãm bởi các tư tưởng cổ hủ, cũ rích… Trong tác phẩm này, các nhân vật vẫn mang những dáng dấp quen thuộc mà chúng ta từng thấy trong một số tác phẩm trước như “T mất tích”, “Thang máy Sài Gòn”…

Nhân vật hắn là hiện thân của khao khát sống thật là mình, nhưng cuộc đời hắn vẫn cứ bị mắc kẹt trong bàn tay sắp đặt của mẹ, cuộc tình nhàm chán với M hồi sinh viên, cuộc sống chẳng vui chẳng buồn có phần ớn lạnh đốt sống lưng với vợ thời hiện tại. “Hắn đã bắt đầu mệt mỏi trước sự buồn tẻ và khắt khe của học đường, nàng xuất hiện chỉ để củng cố thêm sự mệt mỏi của hắn, để hắn thấy thơ của Kerouac hợp với hắn hơn lý thuyết y học.”

Nói về những điểm đã quen thuộc không lẫn vào đâu của nhà văn Thuận, ngoài giọng văn giễu nhại, cách sử dụng câu từ lặp đi lặp lại ở nhiều đoạn, còn phải kể đến thủ pháp tự hư cấu về bản thân mình (làm người đọc liên tưởng đến một số chi tiết đời thực của tác giả như chị em song sinh, người viết văn…), hay những hình ảnh lôm côm của người Việt khi đi du lịch nước ngoài…

Người đọc chỉ có thể cảm thấy những điều cũ kỹ này là hợp lý khi đọc đến chương cuối, tác giả viết: Chiến tranh, 4 thập kỷ đã trôi qua và nước Mỹ đã đặt được Mc Donald vào trung tâm Sài Gòn, mà con người ở đây vẫn không thôi bị chiến tranh ám ảnh. Phải chăng ám ảnh của quá khứ vẫn còn đè lên thân phận người Việt sống tha phương, chưa thoát khỏi những dấu ấn quá sâu sắc về cả văn hóa, lịch sử, bối cảnh xã hội, nên đề tài này vẫn luôn là nỗi niềm canh cánh của tác giả?

2. Những ẩn số mới:

Vậy, ẩn số mới nào làm nên sự hấp dẫn của cuộc chơi với ngôn từ trong “Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư”? Hay nói cách khác, với tác phẩm này Thuận đã “chơi khó” độc giả hơn những cuốn sách đã xuất bản như thế nào?

Ngoài việc dễ dàng có thể nhận thấy nhất trong các câu văn toàn các số 4, khiến người đọc cảm tưởng như vừa ăn cá vừa phải nhằn xương, chúng ta có thể thấy hình ảnh số 4 ở bìa như những con thuyền lênh đênh trên đại dương, gợi nhớ về quá khứ không thể nào quên của Sài Gòn tháng Tư của 4 thập kỷ trước.

Lấy cảm hứng từ con số 4, truyện cũng được viết thành 4 chương, mỗi chương 4 phần. Thực ra việc viết được những câu văn toàn số như thế, đôi khi độc giả cảm thấy bị rơi vào ma trận, nhưng với người viết hẳn sẽ là một trải nghiệm sáng tạo thú vị mà không phải cũng đủ kiên nhẫn để duy trì xuyên suốt tác phẩm như vậy.

Nhưng thật không dễ dàng gì khi tác giả cố tình đánh đố độc giả bằng việc đảo lộn thời gian, không gian và cách xưng hô nhân vật hết sức mù mờ. Nhân vật nói chuyện với nhau kiểu: Những điều này, cô chỉ nói với hắn trong căn phòng khách sạn được trang trí theo kiểu Venise thế kỷ XIV, khi hai người gặp lại nhau 4 tháng sau ở Sài Gòn. Còn bây giờ, trong quán Le 44 V…” Vì thế nếu không đọc văn Thuận trong một tinh thần hoàn toàn tỉnh táo, sẽ chẳng hiểu được mạch của câu chuyện, các nhân vật có liên quan đến nhau như thế nào.

Ban đầu chúng ta thấy rạch ròi hai tuyến truyện được phân cách bởi cách viết nghiêng (dành kể về Ân và nàng) và phần chính còn lại chuyện kể về hắn và các mối quan hệ khác (có phần hết sức rối rắm). Phải đến cuối truyện, chúng ta mới phân rõ được các tuyến nhân vật có các quan hệ, trong các bối cảnh không gian và thời gian như sau:

Hắn – M – nàng – thời đại học năm 4 – sinh viên Y khoa– Paris.

Hắn – vợ – cô – năm hắn 44 tuổi – bác sĩ phòng khám tư – Sài Gòn – Paris – Sài Gòn.

Nàng – Ân – Gia đình nàng – Ngôi nhà của mẹ nàng – Cô – Gia đình cô – Sài Gòn trước tháng Tư.

Và cũng phải đến cuối truyện, kết cấu của truyện không còn là “truyện lồng truyện” nữa, mà hai câu chuyện song song về cuộc đời nàng và cô, hai câu chuyện chữ in nghiêng và viết thẳng đã được nối lại với nhau làm một bằng gạch nối của quá khứ, là việc giao ngôi nhà của “giai cấp tư sản” (nhà nàng) cho “gia đình người có công với cách mạng” (nhà cô), và gạch nối của hiện tại, là hắn và quán Le 44 V.

Tác giả tạo các chi tiết rất chặt để liên kết các nhân vật rời rạc với nhau, từ những tấm ảnh, việc chụp ảnh, đến bối cảnh di chuyển về vùng biển phía Nam nước Pháp để có những liên hệ với đại dương mênh mông của những thuyền nhân ngày nào.

Một điểm mới nữa trong tác phẩm này, nhân vật của Thuận làm tình nhiều hơn, từ đầu đến cuối truyện, cứ vuốt ve nhau, rồi cương cứng, rồi trườn lên, trườn xuống… gập gềnh trên những con số 4 và cũng không tránh khỏi được những pha giễu nhại của tác giả kiểu như: “Đúng lúc hắn tưởng như có thể chết đi trong cái âm hộ lênh láng lũ xuân của cô thì hắn giật nẩy mình bởi 4 tiếng cộc cộc tưởng thủng cả màng nhĩ: 4 trăm gram thịt bò Úc áp chả, không kèm khoai tây, đang bốc khói nghi ngút trong tay đầu bếp khách sạn, đằng sau cánh cửa.”

Vấn đề chính trị mà ở những cuốn trước, tác giả chỉ điểm xuyết vài chi tiết giễu nhại cho vui, trong cuốn này được khai thác triệt để và trực diện, xuyên suốt câu chuyện qua toàn bộ phần chữ in nghiêng. Trong tác phẩm, Sài Gòn tháng Tư đổi thay toàn bộ diện mạo, đời sống, số phận, khuôn mặt của tất cả các nhân vật từ chính đến phụ. Tháng Tư hệt như những cuộc gặp gỡ định mệnh. “Cô nói cô thích các cuộc gặp gỡ định mệnh, chúng có khả năng chia đôi cuộc đời con người ta, phần trước khi gặp và phần sau khi gặp, những thứ khác chẳng còn mang ý nghĩa nào nữa, thừa thãi, vô duyên”

3. Và cuộc dạo chơi cùng tiếng Việt:

Nhưng thực ra, cuộc chơi đầy thông minh và sáng tạo của Thuận trong tác phẩm này còn thú vị hơn nhiều, đó là cuộc chơi với tiếng Việt, mà chúng ta đã thấy thấp thoáng một vài chi tiết trong “Thang máy Sài Gòn”, nhưng ở tác phẩm này thì đích thị là một dụng ý công phu.

Nhà văn Thuận có thể không thành công trong việc làm khó độc giả, vì thể nào rồi độc giả cũng phát hiện ra những chỗ chị kín đáo gài sự tinh nghịch của mình với con chữ, nhưng chắc chắn chị thành công trong việc thách thức các dịch giả nếu muốn dịch cuốn sách này sang tiếng Pháp cho độc giả Pháp.

Riêng tựa đề, số 4 và chữ Tư, với các ngôn ngữ khác, khó mà tìm thấy sự khác biệt. Và nữa, độc giả Pháp sẽ đâm đầu vào bi kịch trong việc nhận ra mạch câu chuyện giữa “Nàng” và “Cô”. “Nàng”, trong câu nói của cô, khi cái giọng vừa nghiêm trang vừa thì thào của cô vang lên trong căn phòng im ắng và mờ sáng, hắn có cảm giác như hiểu được một đại từ nhân xưng không thông dụng trong tiếng Việt”.

Các nhân vật của Thuận thật kiệm lời, nhưng khi dùng từ tiếng Việt thì quả là đắt. Thông qua cuộc trò chuyện của hắn và cô mà “hắn cảm giác tiếng Việt sau tháng Tư có những thay đổi ghê gớm”, tác giả khéo léo lồng vào các cụm từ như “lạc quan cách mạng”, “Bắc kỳ Cộng sản”, “Quýt làm cam chịu”, “Lý do lý trấu”, “Đầy tớ của nhân dân”, “Giai cấp bóc lột”.

Lên đến cao trào là các đoạn đối thoại theo kiểu: Đoàn là gì? Đảng là gì? Cải tạo công thương nghiệp là gì? Xã hội chủ nghĩa là gì? Các câu trả lời đều rất thông minh và thâm thúy theo kiểu: Cô nói cô nghĩ là hắn không biết Đồng Khởi có nghĩa là gì. Hắn hẫng 4 giây và hắn gật đầu. Đồng khởi lên rồi mất tự do.”

4. Kết

Cuối truyện là hình ảnh nàng với chiếc váy trắng trên con tầu đang chìm giữa đại dương không còn vết dấu, và hình ảnh cô cùng hắn ân ái lần cuối trước trong khách sạn trước khi “4 người dọn phòng” sẽ vào dọn dẹp và xóa sạch mọi dấu vết của họ, về cuộc tình trong khoảnh khắc mà cả cô và hắn cũng chẳng buồn tin vào một “happy ending”.

Đọc xong tác phẩm, chúng ta tự hỏi, liệu quá khứ có thể là những khoảnh khắc mà sau đó con người có thể xóa sạch được hay không? Liệu nhân vật của Thuận trong các tác phẩm tiếp theo có còn là những người lúc nào cũng khao khát và canh cánh tự do, không phải sống một cuộc đời này và khao khát một cuộc đời khác? Hay quá khứ, lịch sử, bối cảnh xã hội Việt Nam vẫn quá đè nặng lên thân phận người Việt, kể cả những người sống tha phương? VàMc Donald vào trung tâm Sài Gòn” vẫn không đủ để người Việt khép lại câu chuyện về tháng Tư năm ấy?

Gấp lại cuốn sách, hình ảnh về 14 con hàu sống nằm im ắng trên đĩa tre tròn, bên cạnh là 4 cục mù tạt wasabi xanh nõn giả dối và 4 trái ớt hiểm thâm độc” vẫn còn đọng lại trong tôi. Như thể đây chỉ là những từ ngữ quá sáng tạo của nhà văn thôi, nhưng những hình ảnh này, thật đắt giá.

Đoàn Minh Hằng

====

Mời đọc thêm hai bài đã viết về các tác phẩm của Thuận

Thang máy Sài Gòn: tình yêu ở đâu giữa cuộc đời này.

Đi vào cuộc chơi của Thuận 

Advertisements

Đọc KHẢI HOÀN MÔN

Có rất nhiều điều để nói về tiểu thuyết này, bên cạnh câu chuyện nổi bật là tình yêu, thì có biết bao nhiêu yếu tố xung quanh nó, dù chỉ là một ánh mắt cử chỉ của các nhân vật phụ, cũng đều ghi dấu ấn khó quên. Đôi khi chúng tôi vẫn thường nói với nhau, viết truyện tình một người yêu một người thực ra là điều không khó. Nhưng chuyện tình đó đặt trong bối cảnh xã hội nào, thân phận của con người trong bối cảnh đó ra sao, mới thực sự là một câu chuyện có giá trị. Khải Hoàn Môn là một tác phẩm để lại trong lòng người đọc quá nhiều dư vị, không chỉ là vị rượu Calvados uống một lần xong thấy các loại rượu khác đều trở nên nhạt nhẽo. Tác phẩm lấy bối cảnh Tây Âu (cụ thể là Paris) những ngày hòa bình cuối cùng trước cuộc thế chiến thứ hai đồng thời khắc họa thân phận của những người nhập cư sống tại Paris và cuộc sống của những người tận cùng của đáy xã hội nơi đây.

erich-maria-remarque-1898-1970-german-everett

Nổi bật trên những câu chuyện nhỏ là số phận cô độc, không biết đến ngày mai của bác sĩ Ravic, một tri thức Đức chống phát xít phải trốn ra nước ngoài sống vất vưởng không giấy tờ, thầm lặng chờ thất bại của phát xít Đức để trở về quê hương. Tại Paris anh đã tìm thấy tình yêu và cảm giác mình sống lại nhờ tình yêu, anh cũng trả thù được kẻ thù và cảm giác mình được giải thoát khỏi hận thù.

Theo dấu chân Ravic, hình ảnh Paris hiện lên rõ nét với Khải Hoàn Môn, những ngõ hẻm tăm tối nhếch nhác, những quán rượu đêm khuya và các cô gái điếm…Câu chuyện về các nhân vật phụ rất hay và dù viết bằng giọng kể lạnh lùng nhưng người đọc đều cảm nhận được tình người và thấy rõ thân phận của con người trong chiến tranh trong đó. Nổi bật nhất là câu chuyện về một cậu bé nghèo không may bị tai nạn và cậu cho ràng thật may mắn vì phải cưa chân, nhờ vào tiền bảo hiểm và bán cái chân giả đi, mẹ cậu đã có một cửa hàng để bán bánh. Cái ngây thơ của cậu bé được mô tả rất tự nhiên, nhưng không thể không khiến người đọc cảm nhận được sự xót xa về cái nghèo về cuộc sống dưới đáy xã hội của người dân Paris thời đó. Chuyện về các cô gái điếm phải khám bệnh định kỳ khi hành nghề, chuyện về những người nhập cư bất hợp pháp sống chui lủi cũng là những mảnh ghép đầy thêm về những mảnh đời tăm tối ở Paris. Nhân vật bà chủ khách sạn nơi Ravic trú ngụ cũng là một phụ nữ khá thức thời với chính trị khi bà thay những bức tranh có liên quan đến phe nọ đảng kia, để phù hợp với mỗi vị khách nhập cư chuyển đến chuyển đi.

Chuyện tình của Ravic và Jeanne được xuyên suốt từ đầu đến cuối câu chuyện cùng với vị rượu Calvados khó quên. Đoạn văn miêu tả cảnh Ravic đứng dưới mưa nhìn lên cửa sổ phòng Jeanne là một đoạn văn rất đẹp, đẹp đến nghẹt thở. Cũng như đoạn Ravic giết chết kẻ thù (Haake) của mình, một cách tỉ mỉ, cảnh vật được mô tả lướt qua cửa kính ô tô khi xe chạy lúc cái xác vẫn còn trên xe, khi cái xác đã được chôn xong, và những diễn biến nội tâm cũng làm người đọc bị đắm chìm trong đó.

Nguyên mẫu chính của nhân vật Jeanne trong truyện là minh tinh màn bạc Marlène Dietrich. Hình ảnh của Marlen ngoài đời cho rằng được bê nguyên xi vào trong truyện “Với khuôn mặt xanh tái, những thớ thịt nhô cao, nàng gợi nhớ tới một chiếc mặt nạ và cặp mắt mở to ẩn chứa rất nhiều bí mật, vừa không giấu giếm một cái gì lại vừa không hé lộ một cái gì”. Khi tác giả ngoài đời tỏ tình với Marlen thì cô vừa nạo thai trong cuộc tình với một nam diễn viên khác. Đau khổ và tuyệt vọng tác giả đã xây dựng lên hình ảnh bác sĩ Ravic tài giỏi trong phẫu thuật, thi thoảng làm vài ca về nạo thai. Jeanne trong câu chuyện cũng làm nghề diễn viên và cặp với diễn viên nam khác.

Annex - Dietrich, Marlene_29

“Tình yêu chết đi không thể để lại một tình bạn. Kết thúc là kết thúc”
“Chẳng một người nào có thể trở thành xa lạ hơn cái người mà ta đã yêu và đã bỏ”
Remark đã viết như thế trong tác phẩm Khải hoàn môn.

Vì tác phẩm quá ấn tượng với mình, nên mình đã vừa load xong một loạt truyện khác của cùng tác giả như Phía tây không có gì lạ, Thời gian để yêu và thời gian để chết, Bản du ca cuối cùng, Ba người bạn…

ĐỌC KIM CÁC TỰ

“Trong chùa của Ba, chúng tôi không có đủ màn ngăn muỗi. Thực là một điều lạ lùng khi Má và tôi không bị lây bệnh lao của Ba, bởi cả ba người đều ngủ chung trong một cái màn; và bây giờ lại thêm cái ông Kurai này vào nữa. Tôi nhớ một đêm hè vào lúc rất khuya, một con ve sầu bay dọc theo hàng cây trong vườn và buông những tiếng kêu cộc lốc. Có lẽ chính những tiếng kêu ấy đã làm tôi thức dậy. Tiếng sóng biển vọng lại ầm ầm và cái màn xanh nhợt che muỗi rập rờn theo gió biển. Tuy nhiên, có cái gì khác thường trong cách lay động rập rờn của cái màn. Tấm màn căn phồng khi gió thổi tới, rồi miễn cưỡng lay động để gạn lọc gió biển. Như thế, hình dạng cái màn rung rinh gợn nếp không phản ánh trung thực làn gió… Điều làm cho tôi nhận ra Ba đã thực sự thức giấc ấy là nhịp thở không đều, tắc nghẹn của Ba sau gáy tôi, vì tôi nhận thấy rằng Ba đang ngăn chặn cho khỏi ho. Bất thình lình đôi mắt mở to của tôi bị một cái gì to lớn, ấm áp che kín, và tôi chẳng thấy gì. Tôi hiểu ngay tức khắc. Từ đằng sau, Ba đã đưa hai bàn tay để che cho tôi khỏi thấy. Truyện này xảy ra nhiều năm về trước lúc tôi mười ba tuổi…”

Đây là một đoạn văn kể về một đêm trong một ngôi chùa có nhiều muỗi, và vì không có đủ màn nên người khách tá túc nhờ qua đêm ngủ chung với gia đình chủ. Cậu bé nửa đêm tỉnh giấc bởi những âm thanh lạ, và việc người mẹ ngoại tình ngay bên cạnh hai bố con được thể hiện qua cách lay động rập rờn của cái màn, cũng như tiếng thở tắc nghẹn của người cha sau gáy, và một bàn tay to lớn ấm áp che kín đôi mắt người con.

Một lần trò chuyện với một người bạn về viết, chúng tôi vẫn hay thường nói chúng ta không viết “Cô gái ấy đẹp”, mà phải tả làm sao để người đọc cảm nhận được cái đẹp. Đoạn văn bên trên là một đoạn văn tài tình về việc dùng cả một đoạn văn không hề nói đến điều cần nói mà người đọc có thể cảm nhận được tất cả về sự việc xảy ra.

Trong Kim Các Tự, tác phẩm của Mishima Yukio còn có nhiều đoạn văn đẹp như thế. Nhưng trên hết đó là một tác phẩm về cái đẹp và sự hủy diệt cái đẹp để giải thoát. Truyện được xây dựng từ một sự kiện có thật ở Nhật, vào năm 1950, ngôi chùa 500 tuổi nổi tiếng có tên Kim Các Tự bị đốt bởi một chú tiểu. Sáu năm sau, Mishima viết thành một tác phẩm mang đậm màu sắc triết học nhằm lí giải động cơ đốt chùa của kẻ yêu cái Đẹp.

“Những con chim khác bay trong không gian, nhưng con phượng hoàng vàng óng này đang vĩnh viễn bay qua thời gian trên đôi cánh chói rạng. Thời gian đập vào đôi cánh ấy, thời gian đập vào đôi cánh ấy và bềnh bồng trôi lại đằng sau. Để tung cánh bay, con phượng hoàng đứng yên bất động…”

Kim Các Tự, một vẻ đẹp hoàn mỹ đã từng giống như một tượng đài sùng bái, trở thành tù ngục, khiến chú tiểu phải giải thoát bằng cách đốt nó đi, trở thành hình tượng giác ngộ tự thân, quá trình tự vùng vẫy, thiêu hủy và giải thoát.

Cuộc đời là những chuỗi ngọc đẹp long lanh nếu ta chiêm ngưỡng từ xa nhưng chạm tay đến chỉ là sỏi đá, giống như trải nghiệm của chú tiểu Mizoguchi về cái đẹp của Uiko, Tsurukawa, sư phụ, cô gái mặc áo kimono đỏ tiễn chồng ra trận, và bao trùm lên cả là vẻ đẹp của Kim Các Tự.

“Thế rồi, ngay trước mặt tôi, nàng tháo tung giải lụa thắt ngang thân mình và gỡ bỏ những dây chằng chịt… Đưa tay vén áo nàng lên, nàng nâng bầu vú bên trái chìa ra ngay trước mặt tôi. Nếu bảo rằng tôi không hề thấy choáng váng, ngất ngay thì không đúng… Cái điểm trăng trắng thần bí mà tôi đã nhìn thấy từ xa mãi tít trên nóc sơn môn không phải là cái chất lượng nhất định của một khối thịt như thế này. Ấn tượng ấy đã ấp ủ đến lên men trong lòng tôi đã quá lâu nên bầu vú mà tôi nhìn thấy lúc này hình như chỉ là một khối thịt, môt thứ vật chất không hơn không kém…. Tuy vậy, tôi không muốn nói điều gì dối trá; và rõ ràng là khi nhìn thấy bộ ngực nõn nà của nàng tôi liền bị choáng váng, ngây ngất ngay tức thì. Chỉ phiền một nỗi là tôi nhìn quá kỹ lưỡng, tường tận, cho nên cái bầu vú mà tôi nhìn thấy đã vượt qua khỏi tình trạng bầu vú đàn bà để dần dần biến dạng trở nên một mảnh vụn vô ý vị. Chính lúc này đã xảy ra một sự lạ. Sau khi trải qua sự thích thú đau đớn như thế, cuối cùng bầu vú nàng làm tôi ngây ngất vì vẻ đẹp… Bây giờ, trong khoảnh khắc bầu vú thiếu phụ nối lại những liên quan với toàn thể, nó vượt lên khỏi tình trạng chỉ là một khối thịt để trở thành vật chất bất cảm bất hủ, gần với vĩnh cửu… Một lần nữa Kim Các Tự lại hiện ra trước mắt tôi. Hoặc hơn thế, tôi cần nói rằng bầu vú ấy đã biến dạng trở thành Kim Các Tự.”

Đoạn này tả về cô gái mặc áo kimono đỏ, có chồng chết trong chiến tranh, bị ruồng bỏ bởi người bạn chân què lập dị của chú tiểu, đã mở ngực mình cho chú xem sau khi chú kể rằng cách đó nhiều năm, trên nóc sơn môn, chú đã nhìn thấy cô trong bộ kimono rực rỡ, làm một nghi lễ vắt sữa cho chồng trước khi ra trận. Khi đó, chú đã bị ngất ngây bởi bộ ngực đẹp đẽ căng tràn đó, nay chú đau xót nhận ra rằng, sau tất cả những gì ô nhục mà cô ấy phải trải qua, cũng như ở một cự li quá gần, nó chỉ còn là hai khối thịt như mảnh vụn vô ý vị.

Đọc truyện này xong, chúng ta như hiểu hơn về sự trăn trở về những vẻ đẹp xung quanh ta. Nói chung, đừng tự cầm tù mình bởi những ảnh hưởng từ hình ảnh, tư tưởng hay lối sống của người khác. Và vẻ đẹp luôn là thứ chúng ta nên đứng từ xa chiêm ngưỡng chúng như bình thản ngắm những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Đừng lại gần, đừng nắm trong tay, vì có ngày chúng ta sẽ buộc lòng phải hủy diệt chúng, hoặc thất vọng chán chường khi chúng không đẹp như ta mộng tưởng.

Trong những không gian của sách

398098_2286865342160_1214881861_n

 

Một trong những mơ ước xa xôi của tôi là trở về Việt Nam mở thư viện hoặc hiệu sách hoặc tiệm cafe sách mà ở đó có những không gian mang lại những xúc cảm đặc biệt cũng như yên bình cho mọi người. Tôi chưa thể định hình được tương lai là bao nhiêu năm nữa, tôi sẽ có thể có bao nhiêu tiền, tôi sẽ bắt đầu công việc đó như thế nào, nhưng tôi có thể hình dung một cách chính xác và chi tiết những không gian sách đó, như thể nó đang tồn tại sẵn trước mặt tôi. Trong những năm tháng của tuổi 20, khi cả tuần chỉ lê la cafe với chúng bạn khắp các ngõ phố Hà Nội, trong túi chỉ có vài đồng bạc lẻ, không biết tương lai mình sẽ đi về đâu, tôi cũng đã từng có mơ ước mở một quán cafe sách của riêng mình. Và điều đó đã được thực hiện năm tôi 28 tuổi.

 

Tình yêu là một điều gì đó hết sức riêng tư và sâu kín. Khi chạm vào những cuốn sách hoặc được sống trong những không gian của sách, tôi vẫn luôn có những xúc cảm đặc biệt. Tôi có thể đọc một cuốn sách, đắm chìm trong thế giới đó ở những nơi hết sức ồn ào, như khi đợi xe bus, trong quán cafe náo nhiệt, nhưng tôi không bao giờ đến với sách trong những không gian có quá xô bồ và hình thức liên quan đến sách. Chẳng hạn như dù có làm thơ tôi không bao giờ đi hội thơ. Hoặc là một người yêu sách tôi không bao giờ đi hội sách. Có lẽ vì khi yêu người ta cũng biết ghen. Tôi sợ nhìn thấy cảnh nhiều người lũ lượt, có thể là cả chen lấn xô đẩy, chạm tay vào những cuốn sách và chúng bị xộc xệch mất. Nhất là trong những hội sách, những cuốn sách có thể bị dán nhãn xanh đỏ những cái mác được chỉ ra rằng chúng được hạ giá một cách thấp nhất. Và có thể trong những hội sách đó, người ta mở những cuộc giao lưu về sách, trong những tiếng loa, mà không phải là những lời tâm tình về sách.

 

Tôi yêu những quyển sách, khi tôi có một mình với chúng, hoặc trong những không gian của thư viện, hiệu sách, nơi tất cả mọi người cũng đang chìm đắm vào thế giới đó, một cách tĩnh lặng và mê đắm. Cảm giác đó, luôn cho tôi những xúc cảm yên bình và hồi sinh. Sự yên bình có được từ những lắng đọng sâu kín còn sự hồi sinh có được do tâm hồn được nở bung ra như những đóa hoa rực rỡ.

 

Xin đừng nói với tôi những ngôn từ đao to búa lớn về việc đọc sách như chúng ta cần xây dựng văn hóa đọc, hoặc đọc sách là tri thức, là đổi thay cả vận mệnh dân tộc, hoặc làm thế nào để người ta thích đọc sách…Tôi nghĩ rằng mỗi người đã có trong mình một cái duyên riêng với một điều gì đó mình yêu mến và tình yêu thường được nuôi dưỡng qua thời gian. Với tôi, chỉ có thể nói rằng, tôi không biết làm gì khác hoặc không thể làm điều gì khác tốt hơn ngoài việc đọc sách. (Vì thế, những người không đọc nhiều sách tôi cho rằng họ có những niềm say mê khác hoặc làm những việc khác tốt hơn.) Và tình yêu sách đến với tôi một cách tự nhiên, bắt nguồn từ những năm tháng thời thơ ấu, hình thành nên một nét tính cách khá khác biệt của tôi.

 

Cho đến nay, tôi nghĩ, tác dụng đặc biệt của sách, thật ra đơn giản chỉ là, dạy cho người ta biết đứng tách mình ra khỏi đám đông ồn ào và bầy đàn, tự tin với những gì mình có được trong đời sống nội tâm, có khả năng sáng tạo độc lập và mê đắm với những gì mình yêu thích.

 

(Còn tiếp phần 2, kể về những không gian sách thời thơ ấu, quán cafe sách của tôi và những không gian sách tại Lyon)

 

Có thể đọc thêm “Sách với tôi là người bạn thân quen” tại note dưới đây:https://doanminhhang.net/sach-giong-nhu-nguoi-ban-than-quen/

 

Đoàn Minh Hằng

 

Trong khe nứt của không gian và thời gian

1391128956.nv

“Dạ khúc, năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông” có bìa không nổi bật, nằm lẫn lộn trong những sạp sách lớn với vô số người chen chúc trong buổi Nhã Nam xả hàng kho sách. Tôi đã kiễng chân, vất vả lắm mới lấy được cuốn sách ra.

Tuy nhiên, dòng chữ ngay trang bìa dưới đây, đã quyết định cuốn sách phải thuộc về tôi, cho dù tôi chưa hề nghe nói về “Dạ khúc…” trước đó: “Một cuốn sách vô cùng thông minh về thời gian đang trôi qua cùng những khoảnh khắc thăng hoa khiến hành trình ấy trở nên đáng giá.” Có thể nói, trong khe nứt của không gian và thời gian ấy, tôi và quyển sách đã có duyên với nhau.

Kazuo Ishiguro, tác giả cuốn sách, là một cái tên hoàn toàn xa lạ với tôi dù ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Nói về sự xa lạ, để thấy khi tôi mở trang sách ra, lại bắt gặp một giọng văn gần gũi và vô cùng tinh tế trong cách thể hiện những khoảnh khắc của cuộc sống, tình yêu và những nỗi niềm trắc ẩn. Ông là một tác giả sinh ra tại Nhật nhưng lớn lên ở Anh, không gian của những câu chuyện rất “Tây”, đưa ta đến nhiều vùng đất của Châu Âu, với nhiều nhân vật từ mọi nơi trên thế giới. Và không gian đó ngập tràn trong âm nhạc và âm nhạc là sợi dây kết nối những nhân vật lại với nhau, hoặc đẩy họ xa nhau ra khỏi cuộc đời.

Những khoảnh khắc chia tay lưu luyến

Đó là những cuộc chia ly không lời với sự tiếc nuối đầy trắc ẩn được xây dựng và miêu tả tinh tế. Bốn trên năm truyện ngắn của tập truyện – “Người hát tình ca”, “Mưa đến hay nắng đến”, “Khu đồi Malvern” hay “Dạ khúc” – đều nói về những mối quan hệ đã bị rạn nứt và tan vỡ trong những cuộc hôn nhân, cho dù “chủ thể” là những cặp uyên ương còn trẻ, trung niên hay đã già. Nhưng dù là chia tay hay tan vỡ, nỗi buồn ở đây vẫn được miêu tả rất đẹp, đầy tiếc nuối, và cũng là những khoảnh khắc vô cùng thăng hoa đầy đáng giá.

Trong “Người hát tình ca”, người chồng là ca sĩ đứng dưới cửa sổ khách sạn, hát cho vợ mình nghe từ con thuyền trên dòng kênh ở Venice những bản tình ca gợi nhớ lại từng kỷ niệm của hai người. Đây là kỳ nghỉ cuối cùng của họ trước khi họ quyết định chia tay vì lý do danh vọng. “Chúng tôi vẫn còn yêu nhau. Vì thế bà ấy mới khóc trong phòng. Bởi bà ấy vẫn còn yêu tôi nhiều như tôi vẫn yêu bà ấy.” Và tất nhiên, giây phút đầy cảm động ấy của tình yêu vẫn là một khoảnh khắc vô cùng mong manh, không chống trả được quy luật phũ phàng của cuộc sống, như những cơn sóng dâng trào lên và cuốn trôi đi.

Cũng là những ánh mắt “dâng đầy nước” trong “Mưa đến hay nắng đến” khi bản nhạc “April in Paris” ngân lên, nhưng đây là sự rưng rưng xúc động khi phải kìm nén những đồng cảm trong âm nhạc của mình, với một người bạn thời trẻ, để bảo vệ hạnh phúc cho vợ chồng của một người bạn. Truyện được kể lại bằng cách đưa ra một tình huống khá thú vị mà có lẽ tôi không nên bật mí trước.

Cũng ngập tàn nhạc tính, cuộc chia tay trong “Khu đồi Malvern” là của hai bóng dáng già nua cô độc, rời nhau và dần bé nhỏ giữa mênh mông của những khu đồi. Đó là sự chia tay dù không lời nhưng người trong cuộc tự ngầm hiểu rằng sẽ không thể cứu vãn nổi vì những góc nhìn cuộc sống quá đối lập: một người lạc quan và một bi quan. Truyện hay ở chỗ nó đề cập tới góc độ hai thái độ sống này đã tác động đến tâm trạng sáng tác của nhạc sĩ trẻ tuổi, người kể lại câu chuyện này như thế nào.

Những khoảnh khắc yêu thương mà tiếc nuối đó làm tôi nhớ đến một đoạn văn trong tác phẩm “Đời nhẹ khôn kham” của Milan Kundera. “Hai người khiêu vũ theo điệu nhạc. Tereza ngả đầu lên vai Tomas. Y như lúc hai người ngồi trên phi cơ bay xuyên qua những đám mây giông bão. Cô thấy trong lòng dâng lên cảm giác sung sướng lẫn buồn rầu như lúc đó. Buồn rầu nghĩa là: chúng ta đang ở trạm cuối. Vui sướng nghĩa là: chúng ta đang ở cạnh nhau. Buồn là hình thức, vui là nội dung. Niềm vui tràn ngập khoảng chứa của nỗi buồn.”

Những khoảnh khắc gặp gỡ thăng hoa

Ai đó từng nói rằng “trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt” và “tình yêu chẳng qua chỉ là những khoảnh khắc thăng hoa mà thôi” thì hai khẳng định đó đều đúng với câu chuyện của những nhân vật trong “Dạ khúc” và “Người chơi Cello”. Nhưng, cái tài của tác giả là không sa đà miêu tả vào nỗi buồn thảm của bóng đêm tĩnh lặng, sau giây phút rực rỡ nở bừng của cảm xúc. Tác giả chỉ viết về những khe nứt của không gian và thời gian, nơi mà chẳng ngờ tới, những con người hoàn toàn xa lạ gặp nhau trong tình huống đặc biệt, và từ đó nảy sinh tình cảm không lời, khi tâm hồn được thăng hoa, cùng âm nhạc.

Trong hai truyện cuối của tập truyện ngắn, ngoài việc miêu tả những tình huống gặp gỡ của hai nhân vật, họ nói gì với nhau, những tình cảm thầm kín được gói ghém như thế nào, thì câu chuyện còn trở nên đắt giá bởi những triết lý về tình yêu cuộc sống.

Trong “Dạ khúc” có đoạn viết: “Tôi hy vọng vợ anh quay lại. Tôi thực tình hy vọng thế. Nhưng nếu cô ấy không quay lại, thì, anh phải bắt đầu một góc nhìn mới. Cô ấy có thể là một người yêu tuyệt vời, nhưng cuộc đời lớn hơn nhiều chứ không phải là chuyện yêu một ai đó. Anh phải xông pha, Steve. (…). Đã lâu lắm rồi kể từ lần cuối khi tôi khi trung chuyển giữa hai cuộc hôn nhân. Nhưng thế nào tôi cũng sẽ xông ra mà thử một lần xem.”

“Dạ khúc” mô tả những giây phút dở khóc dở cười (kèm những tình cảm sâu kín) của một phụ nữ thuộc hàng nghệ sĩ nổi tiếng với một người đàn ông là nhạc công không tăm tiếng. Thời gian chỉ gói gọn là một đêm trong không gian là một khách sạn hạng sang, khi hai người ở cạnh phòng nhau, chờ tháo băng mặt vì phẫu thuật thẩm mỹ. Còn trong “Người chơi Cello” lại là sự gặp gỡ tình cờ nhưng không kém phần thăng hoa của một chàng nhạc công Hung với một phụ nữ Mỹ hơn mình cả chục tuổi.

Khi chàng trai bắt đầu nhận ra rằng mình có cảm xúc mạnh mẽ với người phụ nữ, là lúc chàng cảm thấy mình được thăng hoa với âm nhạc, háo hức, say mê và nghiêm túc với nghề. Đoạn kết câu chuyện, người phụ nữ đi lấy một người đàn ông khác dù đủ mọi điều kiện vật chất nhưng không hiểu lắm về âm nhạc. Và chàng thanh niên thì mất đi cái thần thái háo hức, say mê, yêu đời với âm nhạc.

Thay cho lời kết, tôi được trích dẫn một lời giới thiệu in trên bìa ba của cuốn sách: “Đây không hẳn là những câu chuyện về âm nhac, mà là những nghiên cứu về mối quan hệ, nhấn mạnh vào sự nổi tiếng và cái giá phải trả để thành danh hay thất bại trong thế giới hiện đại”. Vậy tình yêu thật sự là gì? Liệu tình yêu có phải là tất cả trong cuộc sống này?

 

Liệu tình yêu có quá đỗi mong manh khi chỉ tồn tại được trong những khoảnh khắc thăng hoa, giữa những khe nứt của không gian và thời gian? Liệu tình yêu có thể tách bạch với những đam mê trong sự nghiệp và danh vọng? Liệu tình yêu đôi lứa và tình yêu cuộc sống có thể hòa nhịp được cùng nhau hay không?

Đó là những điều mà có lẽ khi khép lại cuốn sách, mỗi chúng ta đều muốn suy ngẫm về nó.

Đoàn Minh Hằng

Sách giống như người bạn thân quen

1530566_10200884196498243_1981886035_n

 

Tôi ít đọc sách theo phong trào, thậm chí có những quyển người ta cho là tầm phào thì tôi lại đọc. Đơn giản, nó là cuốn sách hợp với sự hiểu biết và trải nghiệm của tôi hoặc không nằm ngoài vấn đề tôi đang quan tâm. Với một số lĩnh vực ngoài văn học thì tôi đọc sách theo nhu cầu cần phải áp dụng vấn đề gì đó ngay vào thực tiễn và có sự so sánh đối chiếu giữa thực tế và sách vở. Đối với sách văn học, tôi không tìm trong đó những câu chuyện tình, tôi tìm được những tiếng nói nội tâm, trải nghiệm sống, sáng tạo văn học, nhưng đều có sự liên tưởng đối chiếu thực tế với cuộc sống và với những gì mình đã hiểu về cuộc đời có thực. Có những vấn đề tôi hiểu lờ mờ về nó, thì sách đã viết được ra bằng ngôn từ để tôi có thể gọi được rõ ràng tên những vấn đề mà tôi suy nghĩ và rút ra về cuộc sống.

 

Sách lớn lên theo ta cũng năm tháng cũng theo nghĩa đó. Với sự trải nghiệm chưa sâu sắc, khi đọc ta chỉ cảm nhận được một phần. Vài ba năm sau hoăc chỉ cần vài tháng sau đọc lại, lại có một sự cảm nhận sâu sắc hơn, nhìn được nhiều vấn đề hơn từ cùng 1 văn bản. Chính vì thế, khi biết mình thật sự đang quan tâm về vấn đề gì, tôi mới tìm đọc để sách hợp với mình, để thấu hiểu nó sâu sắc hơn, không muốn khoác lên mình những cuốn sách quá nặng về tri thức mà ko hiểu hết được nó. Dần theo năm tháng mình sẽ lựa chọn những cuốn khó hơn, nếu cần hiểu sâu sẻ đọc ít nhất 2 lần.

 

Sách cũng nói với ta những tiếng không lời. Sách không phải là những thứ ồn ào, phô diễn. Khi đi vào thế giới của sách, ta cảm thấy mình được yên tĩnh, bình yên, đồng cảm. Sách là chắt lọc những tiếng nói tinh hoa và được chắt chiu nhất từ tâm hồn của người viết. Hẳn ta sẽ tìm thấy những gì sâu kín và những giá trị đẹp đẽ từ đó. Ta đọc, chỉ vì ở đó ta có một nơi trú ngụ của tâm hồn. Ta là bạn của sách. Chứ ta không cần bất cứ những mỹ từ tri thức hay văn hóa đọc nào từ sách.

 

Sách cũng chắp cánh cho ta nhiều ước mơ, truyền cảm hứng từ những khát vọng và sáng tạo. Sự sáng tạo của các tác giả cày xới không ngừng trong những cuộc chơi của ngôn từ, ta cảm thấy hứng thú với việc tìm cách biểu đạt những nội dung khác nhau theo những cách khác nhau mà lại giấu kỹ bên trong những điều sâu kín. Chỉ có những người coi sách như tri kỷ mới biết được. Những nhân vật, những cuộc đời trong sách trao cho ta những khát vọng, tin yêu và nhiều giá trị nhân văn, để ta lấp đầy những khoảng trống bên trong mình, cả về tâm hồn và sự nhận biết cuộc sống.

 

Hãy đơn giản coi sách như người bạn thân quen.

 

 

Tổng kết đọc sách năm qua

1486921_10200813085000500_22007951_n

Năm qua vẫn thất nghiệp và nghèo đói, ngoài trông con ra không biết làm gì chỉ biết mỗi đọc sách. List dưới đây rất dài, tổng cộng khoảng 44 quyển đã đọc và 10 quyển đọc dở.

Nói chung những cuốn ấn tượng nhất còn đọng lại là: Trần trụi với văn chương, Đời nhẹ khôn kham, Đôi bạn chân tình, Tất cả những dòng sông đều chảy, Những bông hoa trên tầng áp mái.

Hai cuốn muốn đọc lại là: Đời nhẹ khôn kham và Nghệ thuật tiểu thuyết.

Sang năm trình cao hơn em mới dám mon men đọc các quyển khó nhé.

====

1.Bắt trẻ đồng xanh

2. Made in Vietnam

3. T mất tích

4. Chinatown

5. Thang máy Sài Gòn

6. VânVy

7. 1Q84 (cả 3 tập)

8. Một mình ở Châu Âu

9. Trần trụi với văn chương

10. Đời nhẹ khôn kham

11. Xách ba lô lên và đi

12. Đôi bạn chân tình

13. 50 sắc thái (2 tập, còn tập 3 chưa đọc)

14. Hoa tầm xuân của mùa thu

15. Bên thắng cuộc

16. Thư tình gửi một người

17. Thế giới là một cuốn sách mở

18. Cô gái năm ấy chúng tôi từng theo đuổi

19. Mãi mãi là bao xa

20.  Người lớn cô đơn

21. Yêu trên từng ngón tay

22. Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ

23. Khởi nghiệp tinh gọn

24. Người mẹ tốt hơn là người thầy tốt

25. Tâm lý trẻ thơ

26. Dạy con kiểu Nhật

27. Con cái chúng ta đều giỏi

28. Giấc mơ của bạn nhất định sẽ thành hiện thực

29. Những bông hoa trên tầng áp mái

30. Quán trọ hoa diên vĩ

31. Tuyển tập truyện ngắn Raymond Carver

32. Tuyển tập truyện ngắn Maupassant

32. Tuyển tập truyện ngắn Sagan Francoise

33. Tuyển tập truyện ngắn viết về phụ nữ

34. Tuyển tập truyện ngắn đoạt giải Nobel

35. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

36. Truyện ngắn Nguyễn Đình Tú

37. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng

38. Giông tố

39. Vỡ đê

40. Cơm thầy cơm cô

41. Cạm bẫy người.

42. Lá rơi trong thành phố

43. Người thầy

44. Tất cả những dòng sông đều chảy.

 

Đang đọc dở

 

1. Đám đông cô đơn

2. The invention of Solitude

3. Câu chuyện dòng sông

4. Sói thảo nguyên

5. On writing

6. My life in France

7. Raising children compassionately

8. Other colors

9. Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất

10. Đức mẹ mặc áo choàng lông.

===> ĐỌC THẬP CẨM THƯỢNG VÀNG HẠ CÁM, TRONG ĐÓ NHỮNG QUYỂN THUỘC LOẠI KHÓ HOẶC CHỈ CÓ BẢN TIẾNG ANH THÌ LƯỜI NÊN CÒN ĐANG DANG DỞ. (Quyển 9 và 10 trong list bên dưới là đang đọc dở vài ngày gần đây và vì nó dễ nên sẽ đọc trước 🙂

Thang máy Sài Gòn.

Thang máy Sài Gòn là cuốn tiểu thuyết thứ sáu của nhà văn Thuận, mới ra mắt độc giả năm 2013 tuy đã được hoàn thành từ ba năm trước. Sau 11 năm kể từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên được ấn hành vào năm 2002, người đọc đã quen thuộc và háo hức chờ đợi các tác phẩm của Thuận, và tất nhiên, có một chút kỳ vọng. Bởi văn của Thuận tuy lạ so với người khác, nhưng nếu không mới cho với chính mình, thì món lạ ăn mãi cũng quen.

Thang máy Sài Gòn, đọc qua thì thấy hoàn chỉnh hơn hẳn so với các tiểu thuyết trước, nhưng vẫn thấy những dáng dấp quá thân quen. Vẫn nhân vật nữ tha hương nơi đất Pháp, làm nghề dạy học, sống một mình cũng với đứa con nhỏ (giống trong Chinatown). Vẫn mở đầu tác phẩm bằng một biến cố, sau đó nhân vật biến thành thám tử đi theo dõi người khác (giống trong T mất tích). Vẫn những câu chuyện về bố mẹ trong thời bao cấp ưa bệnh thành tích và tình cảm chẳng mặn nồng (giống trong VânVy). Vẫn có một người anh ở Việt Nam giầu có tiêu tiền như nước và một người em gái sống xa quê trong tằn tiện (giống Paris 11.8). Vẫn một Paris rất khác với những câu chuyện kể về người dân nhập cư, chuyện ngoại tình. Vẫn một Việt Nam quen thuộc với bệnh ưa thành tích, lối sống giả tạo, quan hệ gia đình lỏng lẻo, bi kịch hạnh phúc của từng cá nhân… Và cuối cùng, vẫn giọng văn giễu nhại, hài hước, bông đùa trước mọi vấn đề nghiêm túc, kể cả chính trị, chiến tranh hay tình yêu đôi lứa.

Những độc giả có kỳ vọng cao hẳn sẽ thất vọng vì họ không tìm thấy điều gì mới sau hơn mười năm ăn vẫn mãi một món. Thậm chí họ còn có ý mong mỏi ở những tác phẩm sau, nhân vật của Thuận bớt tưởng tượng đi, hành động nhiều hơn và nhân vật “tôi” hay “cô” gì đó đừng là một cô gái mặt khó đăm đăm, kém nhan sắc, học hành giỏi giang nhưng suốt ngày suy tưởng.

Như trong bài viết Đi vào “cuộc chơi” của Thuận, tôi đã chia sẻ rằng, khi tiếp cận văn bản của Thuận, nếu không tìm được chiếc chìa khóa thì rất dễ bị đứng lơ ngơ giữa mê cung của ngôn từ. Nhưng khi đã có chìa khóa rồi, tôi cho rằng bạn sẽ mở ra được khá nhiều điều thú vị.

Về vỏ bề ngoài của ngôn ngữ, giọng văn Thang máy Sài Gòn bớt lạnh lùng hơn ở những chương cuối. Ở kết thúc mỗi chương, tác giả khuyến mại thêm bạn đọc vài câu văn tả cảnh khá mượt mà về mưa rơi, lá vàng… Vậy, bên trong mê cung đầy rẫy những sự kiện, những dịch chuyển của thời gian, không gian và những gương mặt người diễn qua diễn lại trong tác phẩm ấy, ẩn chứa những câu chuyện gì?

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin được trình bày ba chồng hộp mà tôi nghĩ là mình đã khám phá được sau khi tiếp cận văn bản.

1. Tình mẫu tử:

Mười mấy năm liền một bên kiên nhẫn gọi để chỉ nhận được những tiếng nhấc bỏ máy, một bên kiên nhẫn nhấc máy để lại bỏ máy ngay sau khi nghe thấy tiếng a-lô. Mười mấy năm một số điện thoại duy nhất. Lấy chồng, sinh con, ly dị, lấy chồng khác, ly dị…vẫn một số điện thoại duy nhất. Như một tình yêu duy nhất. Người ta thường nói nhiều về tình mấu tử”.

Một trong những chiếc chìa khóa của cả cuốn tiểu thuyết là ở đoàn văn này. Một câu chuyện nhỏ về tình cha con của chú Điền, người hàng xóm với cô con gái nằm trong những chương cuối cùng của cuốn tiểu thuyết. Trong suốt hành trình dài, nhân vật “cô” lần theo dấu vết của một bức ảnh cũ được cô cho rằng đó là ảnh người tình Pháp của mẹ. Cô theo dõi người đàn ông mang tên Paul Polotski, gặp gỡ những đồng đội và bạn bè cũ của mẹ ở cả Việt Nam và Pháp. Cô chắp nối hình ảnh mẹ qua những câu chuyện kể và những gì còn nhớ được trong ký ức. Tất cả chỉ là những điều xa vời, chỉ là những dấu vết mong manh, không sao nắm được trong tay một chút tình cảm. Mẹ cô với Đảng, với hoạt động đoàn thể của nhà nước là một người chiến sĩ anh dũng, là một cán bộ xuất sắc. Ai chăm cô, ai nấu cơm cho cô, ai đưa cô đi học? Không phải là mẹ. Mẹ cô có những tâm tư tình cảm thầm kín nào? Cô không biết. Mọi thứ mong manh và xa vời quá, lạnh lùng quá, đến mức trong suốt cả một câu chuyện dài, không hề có một câu văn nào biểu hiện xúc cảm.

Thuận có tài trong việc lấy người này để phản chiếu người khác, lấy câu chuyện này để phản chiếu câu chuyện khác. Trong đó, ở đây, câu chuyện nho nhỏ về tình phụ tử của cha con ông Điền, như một tiếng khóc vỡ òa kìm nén trong lòng bấy lâu của nhân vật tôi. Phải chăng, cô cũng thèm khát sự quan tâm đó, tình cảm đó, dẫu chỉ không lời, nhưng mười năm vẫn còn bền chặt và duy nhất. Tình cảm của mẹ con cô là chiếc hộp lớn mênh mang mà trống rỗng, được kéo dài ra suốt cả không gian và thời gian của cuốn tiểu thuyết. Tình cảm của cha con chú Điền là chiếc hộp nhỏ, chỉ nằm trong một hai chương cuối của cuốn tiểu thuyết, nhưng là chiếc chìa khóa mở ra dòng cảm xúc về tình mẫu tử bị gói ghém quá chặt và quá sâu.

2. Tình yêu:

Anh phải nói với Paul là dù thế nào tôi cũng không quên anh ấy”.

Trong câu chuyện tưởng tượng của nhân vật “tôi”, ở chương gần cuối của cuốn tiểu thuyết. người mẹ nhờ chú Điền sang Pháp tìm gặp Paul để nói với ông ấy như thế. Câu nói này được lặp đi lặp lại nhiều lần, như một day dứt khôn nguôi từ đáy lòng ai đó bị gói ghém quá kỹ càng và muốn thổ lộ ra. “Dù thế nào tôi cũng không quên anh ấy” là sợi chỉ đó xuyên suốt câu chuyện dài của người mẹ, xuyên suốt từ thời chiến tranh cho đến thời bình, chuyển từ không gian của nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội, Sài Gòn, Pháp. Trong chiến tranh, trong những vỏ bọc giả tạo của thời bao cấp, người ta sống phải diễn, người ta sống phải giấu đi con người và tình cảm thật của mình. Yêu đương là bị giám sát, yêu đương là bị kỷ luật, có gia đình rồi lại còn yêu người của phía bên kia chiến tuyến còn là tội tày trời. Đó là sự thật hiển nhiên. Tác giả dầy công kể lể trong rất nhiều trang, đưa ra nhiều tình huống tưởng tượng về chuyện tình của người mẹ với ông Paul, còn lấy thêm dẫn chứng về tình yêu của những người đồng đội của mẹ trong chiến tranh. Nhưng, chuyện này cũng có gì là mới mẻ trong cuộc sống mà chúng ta đã biết, trong văn chương Việt Nam cũng đã cũ mòn.

Cô muốn nói với Kai là dù thế nào cô cũng không quên anh ấy”.

Một câu nói ngắn ngủi này thôi, trong một chương ngắn nhắc đến Kai thôi, chính là chiếc chìa khóa thứ hai mở ra những điều bí ẩn của cuốn tiểu thuyết. Như trong bài viết Đi vào “cuộc chơi” của Thuận tôi đã phân tích, Thuận giỏi trong việc chọn cách phản chiếu cuộc đời ai đó thông qua một câu chuyện khác song song với câu chuyện mình muốn kể. Không ai biết nhân vật “cô” là ai, “cô” đã từng có quá khứ về tình yêu ra sao, cha của con “cô” là ai. Nhưng “cô” có một mối tình với Kai, nếu được gặp lại “cô” chỉ muốn nói với Kai rằng, dù thế nào, “cô” cũng không quên anh ấy. Hình ảnh về Kai chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc khi cô đứng trước gương thử quần áo ở một cửa hiệu. Câu chuyện của cô và Kai, câu chuyện của mẹ và ông Paul, chuyện nào là chính, chuyện nào là phụ? Nào ai biết. Bởi nhân vật của Thuận bao giờ cũng gói ghém những khao khát thầm kín quá kỹ, chỉ chờ một cơ hội để được vỡ òa ra. Cái người ta ít nói đến, đôi khi là điều mà người ta muốn lảng tránh, không muốn chạm đến vào nỗi đau, chứ không phải là không quan trọng. Và như thế, chiếc hộp thứ hai về tình yêu đã hiện ra trước mắt bạn. Một câu chuyện nhỏ về tình yêu được lồng trong một câu chuyện lớn về tình yêu. Chuyện nào là hư, chuyện nào là thực, không phụ thuộc vào độ dài hay độ ngắn của câu chuyện. Điều quan trọng nhất vẫn là một tình yêu được giấu sâu kín trong lòng không thể cất lên lời.

3. Mỗi cuộc đời là một sân khấu nhỏ:

Trong chiến tranh, trong thời bao cấp, tại Việt Nam, tình yêu phải giấu kín. Vậy thì giữa thời bình, ở Pháp, nơi bối cảnh những người đàn ông ngoại tình công khai ở khắp nơi và trong những quán cafe, vì sao một lời nói yêu thương lại khó cất lời đến thế? Nhân vật không biết. Tác giả không biết. Tôi cũng không biết. Ai biết được hết thế giới của tình yêu đâu.

Nhưng một điều chúng ta biết chắc chắn rằng, mỗi cuộc đời là một sân khấu nhỏ. Trong Thang máy Sài Gòn, mọi nhân vật đều diễn rất tài tình. Mẹ diễn, bố diễn, anh Mai diễn, chú Điền diễn, cô Hòa diễn… Cả tiếng Việt cũng còn diễn. Tiếng Việt khi dạy cho người nước ngoài thì khác nhưng nếu người nước ngoài mang đến sử dụng tại Việt Nam thì cần phải hiểu ngược lại trong một số trường hợp đặc biệt. Cả đám tang người ta cũng diễn. Người sống diễn, người chết rồi cũng diễn.

Và tình yêu, tình yêu ở đâu giữa cuộc đời này?

 Đoàn Minh Hằng

Đi vào “cuộc chơi”của Thuận

Thích đọc các tác phẩm của Thuận, nhưng để lý giải vì sao lại thích thì vẫn có một cảm giác mơ hồ, giống như bị gây ấn tượng mạnh khi tiếp xúc ban đầu mà không sao nắm bắt được một cách rõ ràng sau đó. Theo dõi tất cả các bài báo viết về Thuận, dường như không nhiều người phân tích được một cách rõ ràng, trọn vẹn về một cuốn tiểu thuyết của Thuận. Hầu hết các bài viết về Thuận đều ở dạng phỏng vấn, mà qua các câu trả lời của tác giả, người ta mới làm rõ ràng hơn được về điều chị muốn nói.

Đọc văn của Thuận giống như bạn được ăn một món ăn lạ nhưng chưa chắc đã dễ ăn. Không rõ khi lao động nghệ thuật, người cầm bút đã phải vất vả vật lộn với từng câu chữ ra sao, nhưng khi tác phẩm được đến với bạn đọc thì câu chữ trơn tru đến độ người đọc không muốn bỏ một tình tiết nào. Như thể nhân vật, tình tiết, sự kiện… được tác giả sắp đặt bầy binh bố trận hết rồi, khi viết cứ thế mà tuôn trào ra. Như thể mọi kiến thức, trải nghiệm, hiểu biết về xã hội Việt Nam và xã hội Pháp đã ngấm sâu vào chị, khi viết chỉ cần chọn lọc những tình tiết từ vốn sống dồi dào sẵn có để đưa vào tác phẩm.

Đọc các tác phẩm của Thuận, bạn sẽ đứng lơ ngơ giữa mê cung của những tình tiết hóm hỉnh, ngôn từ lặp lại, cấu trúc độc đáo, hiện thực xã hội hiện lên ngồn ngộn, và bạn không khỏi không tự đặt ra câu hỏi, vậy rốt cuộc tác phẩm định nói gì? Còn tác giả thì cứ khăng khăng khẳng định rằng chị không định dùng cả một tác phẩm dài như thế để nêu lên một triết lý cuộc đời, chị chỉ quan tâm đến việc “sáng tạo ra ngôn ngữ của riêng mình” và đi tìm tòi những thể nghiệm độc đáo về cấu trúc của tác phẩm mà thôi.

Như thế, cần phải tìm một chiếc chìa khóa để tiếp cận các tác phẩm của Thuận.

1. Thể nghiệm mới về nghệ thuật:

Khi cầm bút, ai cũng có những mục đích và lý do riêng của mình. Khi tiếp cận bản thảo của Thuận, tôi nhận ra rằng chị thật sự đắm chìm trong cuộc chơi của riêng mình, mải mê với những trải nghiệm đầy mới mẻ của mình, mà độc giả chỉ đơn thuần bị cuốn vào cuộc chơi ấy. Người đọc khi đã tham gia thì không có lối thoát, không có sự lựa chọn khác, buộc phải theo, phải nghĩ, phải cảm, phải tìm ra những lời giải của riêng mình.

Nếu như trong Made in Vietnam tác giả đưa những cái tên có thật vào tác phẩm để hư cấu thì trong hai tiểu thuyết ChinatownT mất tích sau này, Thuận trực tiếp đưa mình vào cuộc chơi, cố tình làm rối trí bạn đọc. Theo dịch giả Cao Việt Dũng, đây là hiện tượng autofiction (tự hư cấu), đặc biệt phổ biến trong văn học Pháp. “Tự hư cấu về bản thân mình, dựa trên một số/nhiều yếu tố tiểu sử có thật, làm lạc lối, rối trí người đọc, gây ra những bất ổn về cảm nhận/nhận biết/đạo đức về sự thật.” [1]

Từ những chi tiết nhân vật trong Made in Vietnam từng học ở Nga, ở Pháp (giống cuộc đời thật của tác giả), cho đến nhân vật T trong T mất tích được cố tình khiến độc giả tìm thấy những nét tương đồng với tác giả. Đoạn vĩ thanh của T mất tích mập mờ một cách hữu ý để người đọc liên tưởng tới việc sự mất tích của T giống như sự mất tích của tác giả ngoài đời, người tạm lánh đâu đó ba tháng để hoàn thiện công việc viết lách của mình.

Các nhân vật trong truyện của Thuận trở đi trở lại đều xuất hiện với công việc vừa dạy học vừa kiêm viết lách. Từ Made in Vietnam (ẗự viết truyện ngắn I´m Yellow) cho đến T mất tích, rồi Thang máy Sài Gòn ta đều thấy nhân vật trăn trở với công việc viết văn như chính tác giả gửi gắm tâm sự của mình vào đó. “Lúc đó, cô đã thử viết truyện ngắn, tối tối ngồi gõ máy tính, gõ mãi gõ mãi vấn thấy văn chương là cõi mơ hồ.” (Thang máy Sài Gòn).

Người đọc có thể đoán già đoán non về những tình tiết hư hư thực thực, nhưng tác giả thật ra chỉ đang bận bịu với cuộc chơi của chính mình mà thôi: “Tôi muốn đóng vai một nhân vật, giống như trong điện ảnh nhiều đạo diễn vẫn đóng vai một nhân vật trong phim của mình vậy” [2] Càng tìm đọc kỹ các tác phẩm của Thuận, ta càng thấy sự chủ động một cách quyết liệt của tác giả trong những thể nghiệm mới của mình khi sáng tác.

Cách xây dựng nhân vật của Thuận khá độc đáo ở chỗ hầu như các nhân vật chính không mấy khi được diễn xuất mà hình ảnh của họ được xây dựng qua tình cảm, suy nghĩ hoặc những mảnh ký ức của những người khác. Cả Thụy trong Chinatown, T trong T mất tích, hay hình ảnh của người mẹ trong Thang máy Sài Gòn đều bị xóa trắng ở thì hiện tại, đều vắng mặt/mất tích/chết và là cái cớ để nhân vật “tôi”/người chồng/người con bắt đầu những cuộc hành trình tìm kiếm của riêng mình. Mỗi một con người, mỗi một cuộc đời đều có những sự thật của riêng mình và Thuận chọn cách phản chiếu một sự thật khác về cuộc đời ai đó thông qua tâm hồn và câu chuyện kể của những người khác. Đọc tác phẩm của Thuận, một lần nữa người đọc lại tự phải hoài nghi về những thế giới song song nằm bên trong nội tâm của con người với cuộc đời có thực trong hiện tại.

Trong Vân Vy Paris 11.8, các nhân vật được sống nhiều hơn, được hành động nhiều hơn, được trực tiếp giao tiếp và kể lể với bạn đọc nhiều hơn về cuộc đời mình. Nhưng các nhân vật được đặt trong sự tổng thể với các nhân vật khác, có sự so sánh tương phản để làm nổi bật lên những số phận, những cuộc đời, những khao khát sống.

Một trong những điểm hấp dẫn và lôi cuốn khác trong cách thể hiện của Thuận là một số tác phẩm bắt đầu bởi một nút thắt, khiến cho các nhân vật là người bình thường nhưng hành động chẳng khác gì thám tử. Người đọc bị cuốn vào một cuộc chơi mới, cùng với nhân vật đi theo dõi các nhân vật khác, hồi hộp tưởng rằng sẽ kiếm tìm được kết quả. Nhưng sự thực thì chẳng có kết quả nào cả. Trong cả T mất tíchThang máy Sài Gòn, cả nhân vật và người đọc đều tham gia vào một cuộc hành trình đi tìm một kết quả này nhưng lại thấy những điều khác trong cuộc sống.

Về cấu trúc, Chinatown được viết theo kiểu truyện lồng truyện trong đó I´m Yellow được lồng vào trong Chinatown. Paris 11.8 phân chương đoạn nhưng là sự kết hợp giữa văn chương và báo chí. Ở mỗi đầu một chương một đoạn tin tức trên báo về nước Pháp. Đến Thang máy Sài Gòn, tiểu thuyết phân chương hồi rõ ràng như một cấu trúc tổng thể. Sau mười năm, trong Thang máy Sài Gòn, độc giả không bị “lôi xềnh xệch” từ Hà Nội sang nước Đức giống như trong Made in Vietnam mà được bay từ Hà Nội, Sài Gòn, Paris để đi tìm những bí ẩn về hiện tại và quá khứ, cũng như những lời giải đáp về tình mẫu tử.

2. Những khát vọng thầm kín

Nhìn nhận vấn đề lịch sử và xã hội theo cách của một nhà văn, Thuận chọn cho mình cách trực diện những góc cạnh rất hiện thực của cả xã hội Việt Nam và Pháp. Cả Hà Nội thơ mộng lẫn Paris hoa lệ đều hiện lên một cách nhôm nhoam có chủ ý trong các tác phẩm của Thuận. Người đang sinh sống tại Pháp đọc các tác phẩm của Thuận rất thích ở những chi tiết hài hước nhưng khá chân thực về xã hội Pháp. Như thể một cách tiếp cận gần gũi hơn về chính sách xã hội, cuộc sống và con người Pháp.

Tôi cho rằng điều làm nên sự đặc sắc và cuốn hút trong các tác phẩm của Thuận không chỉ là phong cách thể hiện như tác giả từng chăm chút, mà chính là góc nhìn và quan điểm của nhà văn về thời cuộc, cùng những gửi gắm về khát vọng thầm kín thông qua cuộc đời các nhân vật.

Thuận chọn cách giễu nhại và hài hước về hiện thực những tháng năm chiến tranh, bao cấp và thời đại chúng ta đang sống. Nhà văn đã khắc họa một cách sống động về xã hội mà ở đó con người ta chưa bao giờ được sống thật với chính bản thân mình. Trong cái xã hội không chỉ nhôm nhoam và đầy giả tạo đó, có những nghịch lý là người Việt ra nước ngoài thì xài tiền như nước. Trong Paris 11.8, từng đoàn khách Việt Nam sang Pháp dùng tiền của nhà nước nên tiêu pha rất thoáng. Anh Mai trong Thang máy Sài Gòn tiêu tiền ở Việt Nam hay nước ngoài cũng chẳng phải nghĩ. Còn người Việt nhập cư ở nước ngoài trong hầu hết các tác phẩm của Thuận đều có cuộc sống tương đối tằn tiện, kham khổ, thiếu thốn.

Trong bối cảnh ấy, người ta phải bận sống cho những cái mác bề ngoài, cho những căn bệnh thành tích, cho những vai diễn, những thứ đầy ồn ào và sáo rỗng. Từng cá nhân phải giấu mình đi cho khỏi bị khác biệt, phải gói ghém những tâm tư thầm kín của mình về hạnh phúc, hoặc làm những cuộc vượt ngục về tinh thần. “Tôi” trong Chinatown, T trong T mất tích, Vy trong Vân Vy, người mẹ trong Thang máy Sài Gòn đều có những uẩn ức và khao khát riêng tư, mà, chỉ có điều đó mới làm họ trở nên khác biệt trong thế giới này. T cuối cùng đã bỏ đi để phá vỡ sự nhàm chán của một cuộc hôn nhân, Vy đi theo tiếng gọi của người tình. người mẹ trong suy nghĩ của người con, có thể có một mối tình thầm kín nào đó với một người đàn ông Pháp.

Bi kịch ấy của cuộc sống là những người thân chẳng hiểu biết gì về nhau, các mối quan hệ là bố mẹ, mẹ con, anh em đều lỏng lẻo. Lỏng lẻo đến mức khi người này biến mất, người kia chẳng có chút khái niệm đầy đủ nào về họ, ngoài những dấu vết hết sức mỏng manh. “Những người ở cạnh mình là những người mình ít quan tâm nhất. Anh có cảm giác anh cũng không biết gì mấy về cả bố lẫn mẹ” (Thang máy Sài Gòn).

Sự hấp dẫn trong các tác phẩm của Thuận chính là ở chỗ tác giả đã xây dựng lên những bi kịch cuộc sống quá thật, quá đúng, với thời đại của chúng ta. Nơi mà tình yêu thương và sự thấu hiểu giữa tâm hồn con người với con người đang cần cất lên tiếng nói. Nơi mà cho dù những năm tháng bao cấp đã đi qua rất lâu, cuộc sống cũng không còn quá nhôm nhoam nữa, nhưng sự giả tạo, bệnh thành tích, những bất công đầy rẫy trong xã hội vẫn chưa hề chấm dứt. Ẩn sau những tiếng cười giễu nhại ấy, người đọc vẫn có thể tìm thấy cuộc sống và nội tâm của mình, đang được gói ghém một cách kỹ càng đâu đó.

3. Chờ đợi những ẩn số mới

Có thể, trong đời sống của những năm tháng bao cấp con người ta không được cất lên những tiếng nói thầm kín, cũng như được sống khác biệt với tất cả mọi người, nên các nhân vật trong truyện của Thuận mải mê sống trong thế giới tưởng tượng của mình.

Thời đại của những năm đầu thiên kỷ thứ ba đã khác, đất nước phát triển và hội nhập hơn, nhưng cũng đầy rẫy các vấn đề nhức nhối hơn của xã hội. Thời đại của mạng xã hội, của những sự kiện văn hóa chính trị được bình luận sôi nổi không ngớt ở khắp mọi nơi. Thời đại mà những tàn dư của thế hệ cũ còn chưa qua và bao nhiêu ung nhọt mới vẫn đang nảy sinh khiến con người ta sống hoang mang giữa những giá trị sống đang bị tha hóa, đảo lộn.

Liệu rằng các nhân vật trong truyện của Thuận đã thoát khỏi được bóng tối của căn bệnh thành tích và cuộc sống giả tạo hay chưa? Liệu rằng họ được hành động nhiều hơn tưởng tượng hay không? Người đọc mong được tham gia vào một chơi đầy ẩn số mới trên con đường sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi của nhà văn Thuận.

Đoàn Minh Hằng

[1] Tham khảo trong văn bản:

http://lythuyetvanhoc.wordpress.com/2010/11/07/nha-thuyen-tro-ch%C6%A1i-van-b%E1%BA%A3n-va-nh%E1%BB%AFng-t%C6%B0%C6%A1ng-tac-d%E1%BB%8Dc-chinatown-c%E1%BB%A7a-thu%E1%BA%ADn/

[2] Tham khảo trong văn bản:

http://yume.vn/news/sang-tac/ban-tron-van-nghe/nha-van-thuan-ve-ha-noi-ke-chuyen-t-mat-tich.35AA0A35.html

Narcissus and Goldmund

sachhay

Có một sự thấu hiểu sâu sắc những gì trong tác phẩm muốn truyền tải

1. Trải nghiệm sống và nghệ thuật.

– Không thể nào tạo được những tác phẩm nghệ thuật kiệt tác nếu thiếu những trải nghiệm về cuộc đời về mọi cung bậc của cảm xúc cũng như những biến cố, con người gặp trong cuộc đời, kể cả những phút giây cận kề cái chết.

– Với một số người, sáng tạo nghệ thuật chỉ là cách để giải tỏa tâm hồn, trả lời những câu hỏi của bản thân, tổng kết lại trải nghiệm sống của mình và biểu đạt lại bằng nghệ thuật. Khi đạt được là xong, như vắt kiệt hết mình, và muốn tiếp tục sáng tác lại cần thêm trải nghiệm.

– Để đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật cần sự hy sinh đời sống cá nhân và khó có thể cân bằng được một cuộc sống bình thường.

– Biểu đạt của nghệ thuật và tư duy là giống nhau, đều là cái gì đó thuộc đỉnh cao. Nhưng nghệ thuật thì cần phiêu lãng và nhìn thấy được bằng hình ảnh. (ko nhớ rõ lắm nhưng biểu hiện trong đoạn đối thoại của Huyền Minh và Đan Thanh khi mở xưởng điêu khắc trong tu viện.

2. Bản ngã, nội tâm, phong cách sống và niềm tin

Trong mỗi con người đều có một bản ngã luôn được con người che dấu đi, hoặc bị lãng quên, hoặc cần được đánh thức, hoặc được đánh thức rồi thì sẽ quyết định sẽ sống như thế nào.

Có người chọn cách sống phiêu du, có người chọn cách sống khổ hạnh. Có những cách sống nhìn thì tưởng bình yên và yên ổn nhưng nào ai biết những gì ở bên trong. Như tu sĩ Huyền Minh phải tự thừa nhận cuộc đời Đan Thanh sóng gió nhưng hình như có ý nghĩa hơn cuộc đời của anh.

Đan Thanh chọn cách sống phiêu du theo đúng bản ngã của mình và trên con đường vô vọng ko phương hướng ban đầu ấy, anh đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình là nghệ thuật, và niềm tin ko bao giờ tắt trong anh ko phải là chúa, mà là mẹ.

Chỉ có duy nhất một người như Đan Thanh trên thế gian mới đủ sức lay động tâm tư và bản ngã sâu kín nhất của Huyền Minh.

3. Ý nghĩa cuộc đời.

Trên con đường trải nghiệm đầy những sự kiện, biến cố thì ý nghĩa cuộc đời cuối cùng là kết quả của sáng tạo nghệ thuật (như những bức tượng mà Đan Thanh đã tạc), là tìm cho mình một cái tâm bình an từ trong tim ( như sau khi Đan Thanh xưng tội với Huyền Minh và hàng ngày quay trở lại đọc kinh), như khi mất hết tất cả lại trở về nơi mình yêu thương nhất, với người tin tưởng và yêu thương mình, với người mình cảm thấy bình yên,

và tình bạn tri kỷ.

và hiểu được ý nghĩa của tình yêu thương.

4. Bàn về tình bạn.

Khác với tình yêu đôi lứa hay tình vợ chồng, tình bạn là một điều gì đó mà ở đó 2 người bạn ko nhất thiết bao giờ cũng mãi mãi lúc nào cùng đi chung một con đường, ko nhất thiết lúc nào cũng mãi bên nhau. Tình yêu đôi lứa hay tình vợ chồng là cùng xây dựng một cuộc sống chung, có sự ràng buộc mật thiết. Nhưng tình bạn dù thân thiết bao nhiêu thì cũng luôn đi hai con đường tách biệt. Sẽ giao nhau, hỗ trợ nhau, hoặc soi bóng nhau ở những quãng nào đó trong cuộc đời. Kể cả khi không trùng nhau, thậm chí đối nghịch, nhưng đều có một ý nghĩa nhất định. Chỉ cần trân trọng, yêu thương nhau và vì nhau, là mãi mãi có một tình bạn chân tình.

Chú thích: do không có bản dịch đầy đủ của Đôi bạn chân tình nên mình đọc bản dịch Nhà khổ hạnh và gã lang thang.